Giống chuối tiêu hồng

Kĩ thuật nhân giống cây trồng tiên tiến

Giống chuối tây thái lan

Giống cây trồng năng suất cao

Trông và chăm sóc cây ăn quả

Thưởng thức những món ăn lạ và ngon miệng, cũng như những nét văn hóa giá trị đậm đà bản sắc dân tộc

Chuối tây thái lan

Giống cây trồng năng xuất cao

Nuôi cấy mô

Kỹ thuật nuôi trồng cấy mô cho giống cây sản lượng cao hơn

Thứ Tư, 26 tháng 4, 2017

Cách trồng quất cảnh giúp thu hoạch đúng dịp Tết

Vào mỗi dịp Tết, bên cạnh cây mai, cây đào thì quất cảnh cũng là một loại cây được rất nhiều gia đình chọn lựa để trưng bày trong nhà của mình. Màu vàng cam rực rỡ của những quả quất xen lẫn với màu xanh tươi của lá cây không chỉ đẹp mắt mà còn mang lại không khí xuân rộn ràng và nhiều may mắn đến với gia chủ.


Cách chiết và giâm trồng cây giống

Thay vì trồng bằng hạt, bạn nên giâm trồng từ cành chiết sẽ rút ngắn được thời gian thu hoạch hơn. Nếu không có sẵn những cây quất lâu năm để chiết cành thì bạn có thể mua tại các vườn chiết với mức giá trung bình rơi vào khoảng 10 – 15 nghìn đồng/cành.

Thời điểm tốt nhất để thực hiện công đoạn chiết cành làm giống là khoảng tháng 12 âm lịch để tiện cho việc giâm trồng vào mùa xuân sau đó 2 tháng, giúp cây có sức sống mãnh liệt hơn.
Tuy nhiên, để có được những cây quất tốt và đẹp nhất, bạn cũng nên lựa chọn cành chiết khỏe mạnh. Thường là những cành to bằng ngón tay út, cành lá phát triển tốt, đều với màu xanh đậm và không bị sâu bệnh tấn công.
Việc tách chiết trong cách trồng quất cảnh đòi hỏi bạn phải có kỹ thuật cơ bản. Cũng giống như các loại cây trồng khác, để tách chiết cành quất làm giống cần tuân thủ theo các bước sau:
- Khoanh một lớp vỏ dài khoảng 2 cm trên cành.
- Cạo sạch lớp vỏ thượng tầng, hay còn gọi là lớp nhầy xung quanh cành, sau đó đợi khoảng 1 – 2 ngày cho vỏ khô.
- Tiếp đến là dùng xơ dừa ẩm bao quanh vết cắt và dùng nilong bọc lại rồi buộc kín hai đầu để giữ ẩm bên trong.
Chỉ cần làm như thế thì sau khoảng 1,5 – 2 tháng thôi, trên đoạn chiết cành sẽ bắt đầu đâm rễ màu trắng. Đó là lúc mà bạn có thể cắt cành ra và mang đi giâm trồng dưới đất.

Cách trồng quất cảnh chuẩn nên chuẩn bị đất thế nào?

Bạn không thể chỉ cắt cành và giâm xuống đất là hy vọng có thể thu được những cây quất phát triển tốt và khỏe mạnh. Muốn thế, bạn cần phải chuẩn bị trước hố trồng và bón đầy đủ các loại phân chuồng hoai mục (khoảng 3 – 5 kg) và phân vi sinh (khoảng 1 – 2 kg).

Thứ Ba, 25 tháng 4, 2017

Kỹ thuật trồng bưởi có hạt thành không hạt năng suất

Ông Hai Hoá ở ấp Tân Phú, xã Sơn Định, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre có kinh nghiệm xử lý bưởi Da xanh có hạt thành bưởi Da xanh không hạt 

Giống bưởi Da xanh ruột hồng vốn không hạt và có chất lượng cao nhưng do trồng xen lẫn với các giống bưởi khác, xẩy ra hiện tượng thụ phấn chéo giữa các giống bưởi nên bưởi Da xanh có hạt và giảm chất lượng. Để bưởi Da xanh trở lại không hạt và thơm ngon như cũ, ông Hai Hoá dùng chụp lưới tự tạo chụp lên chùm hoa bưởi để ngăn cản hoa bưởi thụ phấn chéo, lúc đó bưởi sẽ tự thụ phấn và  không hạt.

Cách xử lý:

1. Chế tạo chụp lưới: Cắt một đoạn dây kẽm uốn thành khung vòng tròn, đường kính miệng rộng 1 – 2 cm.

2. Cắt một miếng lưới lỗ nhỏ, căng bên trong khung tròn, độ sâu chụp lưới 1,5 cm.

3. Dùng một sợi dây đen khoảng 3 cm để buộc chít miệng khung vào cành chùm hoa.

4. Khi nụ bưởi có mầu trắng, sau 3-5 ngày sẽ nở hoa, lúc này chụp lồng vào, buộc dây miệng chụp cho đến khi hoa nở hết. Ba ngày sau thì mở chụp, các nụ hoa xoè ra tức là quá trình tự thụ phấn đã tiến hành.

5. Bưởi tự thụ phấn sẽ cho quả không hạt.

Thứ Hai, 24 tháng 4, 2017

Kỹ thuật trồng cây Thanh Long ruột đỏ thơm ngon

Giống thanh long tốt và phổ biến hiện nay ở nước ta là thanh long ruột trắng. Thanh long ruột đỏ và ruột vàng cũng đang phổ biến. Kythuatnuoitrong xin giới thiệu đến bà con kỹ thuật trồng và chăm sóc cây thanh long ruột đỏ của Trung tâm giống cây trồng Hà Nội.


1. Chuẩn bị đất
- Đất cao: Phần lớn là đất xám bạc màu, nhiều cát. Có nơi khai thác tới sát chân núi. Công việc chuẩn bị đất tương đối đơn giản: cắm cọc, đào lỗ xuống trụ. Sau khi chôn xong trụ thì đào âm quanh trụ sâu độ 10 - 20 cm, đường kính 1,5 m, bón lót phân chuồng rồi phủ lớp đất mặt lên sau đó đặt hom.
- Đất thấp: Tạo mặt liếp,chiều cao mặt liếp so với mặt nước trong mương độ 40 cm, để đề phòng trong mùa mưa nước có thể dâng cao ngang mặt liếp nhất là ở những nơi thấp thì cần phải làm thêm mực trước khi xuống giống. Hễ bị ngập nước một vài tuần nhánh thanh long sẽ vàng, khi nước rút phải bón phân để cây phục hồi lại nhưng như vậy năng suất sẽ không cao.
Đất cần phải được cày bừa kỹ trong mùa nắng, phơi đất, trừ cỏ dại. Cày bừa, làm cỏ không kỹ sau này chi phí trừ cỏ sẽ rất cao, cỏ nguy hiểm trên đất phèn là: Cỏ tranh, cỏ ống, cỏ sâu rọm,...

2. Mật độ trồng
- Khoảng cách và bố trí cây trồng: Trên liếp thanh long trồng xen dứa, hoặc các loại rau như ớt, dưa hấu, cà, xen các loại rau như rau muống, cải, ... dưới mương nuôi cá.
Nên trồng thanh long ở mật độ từ 700 - 1.000 trụ/ha ứng với khoảng cách khoảng 3 m x 3 m. Thanh long là cây cần nhiều ánh nắng, trồng dầy và thiếu ánh sang sẽ cho quả nhỏ.

3. Chuẩn bị cây trụ
Cây thanh long cần bám vào cây trụ nên việc chọn lựa trụ và chuẩn bị là công việc người lập vườn thanh long cần quan tâm trước tiên.
Cây trụ thường được chọn có đường kính trên 25 cm, dài 2,5 - 2,7 m, sau khi chôn còn cao khoảng 2,0 m. Hiện nay, xu hướng của nông dân là hạ thấp trụ xuống, nghĩa là sau khi chôn trụ xong còn cao trung bình từ 1,6 m đến 1,8 m, còn đường kính sử dụng chỉ còn khoảng 15 cm.
Trụ thấp có lợi: Giảm được tiền đầu tư ban đầu, cành thanh long mau lên đến đầu trụ, chăm sóc và thu hoạch dễ hơn. Qua nhiều năm cắt tỉa các cành nhánh chồng chất trên đầu trụ sẽ làm cây cao dần, việc dùng trụ thấp sẽ hãm bớt sự cao dần lên của cây. Nhưng hễ trụ thấp quá thì nhánh thanh long sẽ rũ xuống đất vừa tốn công cắt tỉa vừa ít quả do cành ngắn hơn. Việc trồng cây trụ cần tiến hành sớm, có thể trước thời vụ trồng một tháng. Sau khi lấp đất cây trụ phải thẳng đứng, không lệch ngọn. Trên đầu mỗi trụ người ta đóng một cái khung bằng gỗ, một thanh ngang hay một vòng tròn,… cho thanh long dễ bám để khi đi tới đầu trụ cành thanh long sẽ rũ đầu xuống nên trông toàn tán cây có dạng một cái dù (bay dạng hình nấm).

5. Thời vụ trồng
Cây thanh long có thể trồng quanh năm, tốt nhất nên trồng vào mùa xuân và mùa thu.

6. Bón lót và đặt hom
Trên đất cao, trước khi đặt hom người ta làm âm xuống một khoảng quanh trụ có cạnh độ l,0 - l,5m, sâu 20 - 30 cm, rồi bón lót độ 10 kg phân chuồng + 0,5 kg Super lân.
Trên đất thấp phải lên mô trước khi trồng, xới đất và rải phân quanh mô.
- Đặt từ 3 - 4 hom quanh cây chống (trụ).
Chú ý:
+ Đặt hom cạn 0 - 5 cm để tránh thối gốc do đất ẩm.
+ Đặt áp phần phẳng của hom vào mé trụ để sau này hom ra rễ và bám nhanh vào trụ.
Cột hom vào trụ để gió khỏi làm lung lay lúc đầu vì rễ trên không chưa phát triển để bám vào cây trụ. Sau khi đặt hom, ở các vùng đất cao hễ đất khô và hết mưa thì cần tủ gốc để giữ ẩm,…

7. Bón phân thúc hàng năm
- Để cây ra hoa tụ nhiên: Hiện chưa có thí nghiệm về bón phân cho thanh long trên các loại đất khác nhau. Lượng phân bón thay đổi theo tính chất đất, theo tuổi của cây và theo sản lượng mà cây đã cho. Qua điều tra thu thập số liệu ở các vườn có năng suất cao cho thấy có hai kiểu bón phân điển hình:
- Bón theo đợt: 3 lần/năm
- Bón rải ra nhiều lần trong năm
Riêng phân chuồng thì chỉ cần bón 1 lần sau tỉa cành (tháng 11) và đây là loại phân quan trọng nhất là đối với các loại đất thiếu chất hữu cơ, giữ ẩm kém. Ở năm đầu phân hóa học Đạm.,Lân….và Phân bón phân bón lá CHELAX- LAY-O (hoặc loại tương đương) được hòa vào nước và tưới hoặc phun lên cả thân cành để thúc cành mau leo lên đầu trụ. Các năm sau rải phân quanh gốc rồi tưới nhẹ cho phân hòa tan và ngấm xuống đất.
Giai đoạn kiến thiết cơ bản: chỉ kéo dài từ 1 đến 2 năm. Tổng lượng phân bón thúc thường được áp dụng là 30 kg Urê + 20 kg NPK (16-16-8)/100 trụ/năm.
Chia ra: sau trồng 15 - 20 ngày thúc 1/3 lượng phân: tháng 3 hoặc tháng 4 năm sau thúc 113 lượng phân; tháng 6 - 7 thúc nốt 1/3 lượng phân còn lại, cuối năm thứ 1 bắt đầu có trái bói.
Một số nhà vườn đã chia phân bón làm nhiều lần như vậy nâng cao được hiệu suất sử dụng phân của cây.
Ngoài ra cần bổ sung các phân vi lượng bằng cách phun hoặc tưới  phân bón lá CHELAX- LAY-O, CHELAX- COMBI-5.. như vậy cây con sẽ tăng trưởng thật mạnh ở giai đoạn đầu và sẽ cho quả sớm. Lượng phân thực sự cây sử dụng ở giai đoạn này rất khó tính vì phân bón cho cây trồng xen thanh long cũng đã sử dụng được một phần.
Giai đoạn kinh doanh: năm thứ 3 trở đi năng suất đã khá ổn định cần chú trọng tới K, một loại phân cần thiết để làm quả ngon ngọt và chắc hơn. Lượng phân trung bình cho mỗi trụ như sau: phân chuồng 15 - 50 kg; phân lân (Super lân) 0,5 kg; Urê  0,5 kg; NPK (16-16-8) : 1,5 kg; KCl : 0,5 kg; chia phân ra làm 3 lần:
+ Lần thứ 1: sau khi tỉa cành (tháng 10 - 11) gồm: tất cả phân chuồng + tất cả lân + 1/3 Urê. Mục đích là để thúc các đợt lộc cành đầu tiên ra nhanh để nó mau trưởng thành làm cơ sở cho việc ra quả vào mùa tới.
+ Lần thứ 2: cách lần thứ l độ 40 ngày gồm 1/3 Urê + 1/5 NPK + 1/2 KCl để thúc đợt cành thứ 2.
+ Lần thứ 3: vào tháng 3 gồm 1/3 Urê + 2/5 NPK + 1/2 KCl thúc đợt cành cuối cùng và làm đợt cành thứ 1 phân hóa mầm hoa.
Sau ba lần thúc thì bụi thanh long có 3 - 4 lớp cành và đợt nụ đầu tiên bắt đầu xuất hiện, rồi lớp nụ này kế tiếp lớp nụ hoa, lớp quả này kế tiếp lớp quả kia, người làm vườn quan sát sự ra hoa và năng suất mà bón bổ sung từng đợt NPK cho hết 2/5 còn lại bằng cách chia nhỏ lượng phân này rải làm nhiều đợt trong thời gian cây nuôi quả. Ngoài ra, còn bổ sung các chất vi lượng bằng cách phun CHELAX- COMBI-5, CHELAX-LAY-O

Chủ Nhật, 23 tháng 4, 2017

Làm vườn mini trồng rau quả

Vườn treo mini tại nhà cực đơn giản
Thực hiện 3 bước đơn giản sau, bạn sẽ sở hữu “Vườn treo rau quả” hữu ích và độc đáo.

Những chậu hoa quả handmade nhỏ xinh treo nơi ban công, tường rào hay đơn giản chỉ là những khóm rau thơm xanh tốt cũng có thể giúp góc nhỏ nào đó trong nhà bạn trở nên đẹp mắt và riêng lạ hơn. Tranh thủ lúc rảnh rỗi, bạn thỏa sức sáng tạo những sản phẩm đơn giản và đáng yêu để tô điểm cho không gian của mình. Để làm một vườn treo mini cho rau quả bạn cần chuẩn bị những vật liêu sau.
Chuối tây thái lan
các vật dụng làm vườn treo

Các vật dụng làm vườn treo

Chuẩn bị:
– Những vỏ hộp bằng thiếc cũ

– Bình sơn dạng xịt tay.

– Dây dù loại tròn mảnh.

– Búa và một chiếc đinh dài.

– Phân trùn quế, đất sạch, cây trồng (có thể là cây hoa loại nhỏ hay các loại rau thơm) (có thể mua ở các vựa kiểng, hoa kiểng trên toàn quốc)

Cách làm:
Bước 1: Dùng búa và đinh tạo những lỗ hổng dưới đáy hộp để cây thoát nước. Tạo thêm hai lỗ nhỏ gần miệng hộp với độ rộng đủ xuyên dây dù qua lỗ.



Đục lỗ dưới đáy hộp

Bước 2: Sơn màu cho vỏ ngoài hộp thiếc. Khi sử dụng bình sơn chú ý xịt nhẹ và đều tay cho nền màu hài hòa. Tùy vào màu sắc cây trồng và sở thích, bạn có thể sơn các vỏ hộp đồng màu hay tạo một “vườn treo” bảy sắc cầu vồng rực rỡ, hoặc không tô màu tùy vào sở thích của bạn.

Sơn màu cho vỏ hộp thiếc

Bước 3: Luồn dây dù qua lỗ hổng gần miệng hộp cây và thắt nút cố định thật chặt. Cuối cùng bạn cho đất đã trộn phân trùn quế vào hộp. Sau đó, tiến hành trồng cây và treo sản phẩm vào vị trí yêu thích. Bạn có thể yên tâm trưng chậu cảnh ở ban công hay hiên nhà vì dây dù có độ mềm và rất chắc chắn.

Luồn dây, thắt nút cố định hộp thiếc

Không khó để “hô biến” những vỏ hộp cũ thành vật trang trí độc đáo cho gia đình. Khéo léo hơn, bạn có thể tạo những họa tiết hay bức tranh nhỏ trên vỏ hộp bằng sơn, tạo lỗ hổng cân đối hai bên miệng hộp và treo chậu hoa mới lạ ấy lên cành cây trong vườn, chắc chắn bạn bè sẽ bất ngờ về sự sáng tạo của bạn. Có rất nhiều cách để tận dụng những món đồ cũ và “phù phép” cho chúng thành phụ kiện làm đẹp không gian sống, hãy tự tay chăm chút tổ ấm để nó mang đậm dấu ấn riêng của bạn nhé.

Thứ Sáu, 21 tháng 4, 2017

Cách trồng xoài hiệu quả


Xoài có tên khoa học là Mangifera Indica L, thuộc họ Anacardiacae. Xoài có rất nhiều giống, nhưng có 2 nhóm giống cơ bản là nhóm Ấn Độ (hạt đơn phôi) và nhóm Đông Nam Á (hạt đa phôi). Nhóm đơn phôi thường cho trái quanh năm.



            1. Đất đai: Xoài có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau: đất vàng, vàng đỏ, đất Feralit, đất phù sa cổ, đất phù sa mới ven sông, kể cả trên vùng đất cát giồng ven biển, nhưng tốt nhất là trồng trên đất cát hoặc cát pha thịt, thoát nước tốt, phải có tầng đất dầy ít nhất 1,5-2m, có thủy cấp không nông quá 2,5m. So với các loại trái cây ăn trái khác, xoài là cây chịu úng tốt nhất. Đất nhẹ kém màu mỡ giúp cây dễ cho nhiều hoa và đậu trái, đất quá màu mỡ đủ nước chỉ giúp cây phát triển tốt, nhưng ít trái. Xoài thích hợp đất có pH từ 5,5-7, đất có pH nhỏ hơn 5 cây sẽ kém phát triển. Ở những vùng đất thấp trước khi trồng cần phải lên líp cao sao cho mực nước tại thời điểm cao nhất cách gốc ít nhất 1m.

 2. Thời vụ: Xoài được trồng quanh năm nhưng tốt nhất là vào đầu mùa mưa. Tuy nhiên, nếu trồng với lượng ít ta có thể trồng vào nhiều thời vụ khác nhau, miễn là phải tránh thời điểm nắng nóng và rét đậm và sau khi trồng phải cung cấp đủ nước tưới cho cây.

 3. Giống: Giống Xoài hiện nay được trồng phổ biến nhất gồm có 5 giống là xoài cát Hòa Lộc, xoài cát chu, xoài bưởi, xoài Khiêu xa vơi và xoài tứ quý. Trong 5 giống xoài này thì xoài cát Hòa Lộc và xoài tứ quý là 2 giống nổi tiếng nhất vì cho trái ngon, vị ngọt thanh, trái to (cát Hòa Lộc trung bình 600-700g/trái; tứ quý trung bình 900g/trái), mang lại hiệu quả kinh tế cao, cho nên nhà vườn và người tiêu dùng cũng đều ưa thích. Còn lại, xoài cát chu, xoài bưởi và Khiêu xa vơi (xoài Thái Lan) trái nhỏ (nặng trung bình từ 250-550g), ăn ngon nhưng không bằng 2 giống xoài kể trên. Đặc biệt, giống xoài Thái Lan thường được dùng để ăn sống khi vỏ trái còn xanh. Ngoài 5 giống xoài kể trên, còn có một số giống xoài truyền thống, trồng bằng hột, nhưng do hiệu quả kinh tế không cao nên không được trồng nhiều. Đó là xoài hòn, xoài thanh ca, xoài xiêm, xoài châu hạng võ, xoài thơm, xoài tượng,…

XOAI 2.JPG

4. Chọn giống:

Cây xoài được nhân giống bằng nhiều phương pháp như gieo hạt, chiết cành, ghép,…nhưng phổ biến nhất vẫn là phương pháp ghép. Cụ thể là: giống được ghép trên gốc ghép là giống xoài bưởi hoặc là xoài hôi, cây được ươm trong bầu nilon màu đen có chiều cao 20-22cm, đường kính bầu 12cm. Bầu không bị dập, vỡ. Cây ghép sinh trưởng tốt, thân cây mập, chiều cao cành ghép 40-50cm, đường kính 1cm (đo phía trên vết ghép khoảng 2cm), có từ 2-3 đợt lộc. Lá cây xanh đậm, không có vết sâu bệnh.

Thứ Năm, 20 tháng 4, 2017

Lựu là một loài thực vật ăn quả, thuộc dạng thân gỗ nhỏ. Thân cây già màu xám có tiết diện tròn, thân non màu xám hơi đỏ, tiết diện vuông có 4 cánh. Thân có ít gai và ngọn cành thường biến đổi thành gai. Đây là loài cây lâu năm, phân cành nhánh từ gốc thành bụi dày. Cành non thường vươn dài, lá xanh bóng mượt mọc đối xứng.



Cây lựu  Là cây thân gỗ lá rụng, cao khoảng 2 – 5m. Thân cây màu nâu xám, nhánh non bóng nhẵn và cái màu xanh vàng, có 4 góc cạnh. Lá đơn mọc đối xứng nhau hoặc thành lùm, phiến lá hình trứng, vành lá nguyên vẹn, mặt lá bóng nhẵn, cuống ngắn, lá non có màu xanh nõn hoặc màu đồng. Hoa mọc thành cụm gồm một hoặc nhiều hoa trên đỉnh nhánh hoặc nách lá, cánh hoa màu đỏ hoặc màu trắng, gồm hai loại cánh đơn và cánh kép. Quả mọng hình cầu, màu đỏ vàng. Ra quả vào tháng  9 – 10.
Cây lựu thích hướng về ánh nắng mặt trời, khí hậu ấm áp, có thể chịu nhiệt độ thấp trong thời gian ngắn. Có tính thích nghi cao đối với đất trồng, có thể sinh trưởng trong môi trường đất dính, đất cát, đất kiềm, thậm trí trên các vách đá, nhưng tốt nhất là đất pha cát. Nhiệt độ sinh trưởng thích hợp là 200C – 300C.

Thứ Tư, 19 tháng 4, 2017

Cách trồng chanh leo cho nhiều quả

Đất trồng chanh leo: Bởi trồng được ở nhiều nơi nên chúng trồng được ở mọi địa hình nhưng thích hợp nhất với những loại đất thoáng xốp, giàu chất hữ cơ như Đất thịt nhẹ, đất đỏ Bazan … Đất quá chua hoặc quá kiềm cũng ảnh hưởng tới sinh trưởng phát triển của cây.


Mật độ trồng chanh leo: Đào hố kích thước 60 x 60 x 60 cm, bỏ lớp đất mặt 1 bên. Bón vôi 0,5 kg/hố sau đó tiến hành phân chuồng 10 – 15 kg + 0,5 kg lân/hố. Trộn đều với lớp đất mặt.

Phương pháp làm giàn trồng chanh leo: Nên làm giàn theo kiểu chữ T. Giàn kiểu chữ T chanh leo phát triển tốt hơn do ánh sáng tiếp xúc bề mặt tán lớn, hạn chế nấm bệnh. Nên làm giàn cao 1,8 – 2 m với các trụ tre, gỗ hoặc bê tông, bên trên căng lưới thép với khoảng cách ô vuông 40 x 40 cm cho dây leo.



Tưới nước: Chanh leo: Loại cây cần độ ẩm cao, lượng nước nhiều và thường xuyên vì vậy thường tưới 2 ngày 1 lần, nhất là vào mùa khô cần tưới lượng nước nhiều hơn sẽ gúp cho cây ra chồi, ra hoa và đậu quả liên tục, yêu cầu nước ở nhiều giai đoạn làm trái và phát triển trái nếu thiếu nước sẽ làm rụng hoa, trái hoặc teo trái lại.

Tỉa dây, lên giàn: Việc cắt tỉa tạo tán nên làm thường xuyên tạo ra các cành thứ cấp mới phân bố dều trên mặt giàn giúp cho cây ra hoa đậu trái được tốt hơn. Việc cắt tỉa thường được tiến hành thường xuyên. Sau thu hoạch cắt hết tất cả các cành trên mặt giàn đã cho trái. Để lại thân và các cành từ mặt đất tới giàn. Sau đó cây sẽ ra chồi mới, phân cành cấp 2,3 và các cành quả. Nếu chanh leo không được đốn tỉa hoàn toàn vào cuối năm, sang năm sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng và phát triển đặc biệt làm hạn chế đến năng suất.

Bón phân: Cây chanh leo rất thích hợp với các loại phân hữu cơ, nhất là phân chuồng ủ hoai. Lượng phân bón cho cây theo giai đoạn sinh trưởng, tuỳ thuộc mật độ trồng khác nhau cần điều chỉnh lượng phân bón cho phù hợp.

Phòng và trị bệnh: Chanh dây thường gặp một số bệnh như bệnh đốm nâu (brown spot) là loại bệnh phổ biến nhất, do nấm Alternaria passiflorae gây nên, bệnh ghẻ (scab) do nấm Cladosporium horbarum, bệnh đốm do Septoria gây nên. Ngoài ra còn một số loại bệnh khác mà chanh leo cũng mắc phải.

Những kỹ thuật trồng chanh leo hiện đại sẽ giúp bà con có cách trồng và chăm sóc chanh leo ra trái hiệu quả hơn. Đảm bảo cho sản lượng thu hoạch.


Thứ Ba, 18 tháng 4, 2017

Cách trồng cam Vinh Nghệ An

Cam vinh là đặc sản không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày của chúng ta. Tại sao cam vinh lại ngon có chất lượng tốt đến vậy? là do khí hậu, đất đai và đặc biệt  là do kỹ thuật canh tác đã tạo nên một thương hiệu cam vinh với hương vị ngọt ngào say mê lòng người đến vậy.

Những đặc tính như đất đai, tốc độ gió, khí hậu, ánh sáng, nguồn nước, nhiệt độ … đều là những thành phần tự nhiên ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng, dinh dưỡng trong quả cam. Nghệ An với những điều kiện thiên nhiên sẵn có phù hợp với cam vinh đã tạo nên những quả cam ngon ngọt tạo nên thương hiệu một thời.

Thế nhưng không dừng lại ở đó, người dân Nghệ An luôn chú trọng, quan tâm đặc biệt đến cây cam. Làm sao để có thể tạo ra nhiều loại cam có chất lượng tốt hơn, ngon hơn và năng suất cao hơn. Vậy nên kỹ thuật trồng cam vinh ngày càng phát triển và khoa học không phụng sự mong đợi của người mua.
Dưới đây là những kỹ thuật canh tác cam vinh mà người dân áp dụng để tại ra những trái cam ngon nhất.
Kỹ thuật trồng và chăm sóc cam vinh.
1 Kĩ thuật trồng (Kỹ thuật trồng và chăm sóc cam vinh.)
Đào hố
Để giúp cam non mới phát triển có thể thuận lợi lớn lên cần phải làm sạch cỏ dại. Để cây hấp thu được chất dinh dưỡng tối đa nên để cách xa và kích thức hố khá rộngrộng 60 cm, sâu 60 cm.
Bón lót:
Bón lót giúp cây giống sinh trưởng một cách tốt nhất, cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cần thiết cho cây như sau:
- Phân chuồng hoai mục:  20-30 kg/hố
– Super lân:  0,5-0,7 kg/hố
– Vôi bột: 0,3-0,5 kg/hố *
Thời vụ:
– Vụ Xuân trồng tháng 2-4.
– Vụ Thu trồng tháng 8-10.
Mật độ khoảng cách Tuỳ theo từng vùng đất xấu tốt mà bố trí mật độ khác nhau: Khoảng cách trung bình (5 x 6 m), mật độ 333 cây/ha. Có điều kiện thâm canh cao trồng dày khoảng cách (3 x 3,5 m), mật độ 800 – 1.000 cây/ha.
Cách trồng
Hố thường phải đào trước khi trồng 15-30 ngày. Trộn đều toàn bộ lượng phân ở trên với lớp đất trên mặt, sau đó cho xuống đáy hố, tiếp theo lấp đất thành ụ cao so với mặt hố 15-20 cm, việc này giúp phân hủy chất dinh dưỡng giúp cây hấp thu tối đa kho trồng cây xuống. Vét một hố nhỏ đặt bầu rồi lấp đất vừa kín bầu và nén chặt. Sau đó cắm cọc chéo chữ X vào cây và buộc để tránh làm lay gốc làm chết cây.
Chăm sóc sau khi trồng (Kỹ thuật trồng và chăm sóc cam vinh.)
Tưới nước: 
Nước là phần không thể thiếu nếu muốn cây phát triển nhanh. Sau khi trồng xong cần phải tưới nước ngay. Nếu trời nắng hạn tưới 1lần/ngày đến khi cây hồi phục sinh trưởng. Sau đó tuỳ điều kiện sinh trưởng và thời tiết để tưới.
 
2 Bón thúc phân:(Kỹ thuật trồng và chăm sóc cam vinh.)
Bón thúc phân khá quan trọng bởi trong thời điểm này là lúc cây cam vinh đang phát triển mạnh cần lượng dinh dưỡng lớn để hấp thu, chuẩn bị cho quá trình ra hoa, đậu quả. Đồng thời khi bón cần kết hợp xới xáo, làm cỏ để cây có thể hấp thu chất dinh dưỡng tối đa, cỏ dại sẽ không lấy mất phần dinh dưỡng của cây. Khiến cây phát triển nhanh và đồng đều hơn.
·         Thời kỳ cây còn nhỏ 1-3 tuổi: Hàng năm cần bón thúc vào thời điểm: Tháng 1, tháng 2, tháng 5 và tháng 11.
·         Lượng bón:
- Phân hữu cơ hoai mục:  5-20 kg
– Đạm Urê: 0,1-0,2 kg/cây
– Super lân: 0,2-0,5 kg/cây
– Kali: 0,1-0,2 kg/cây
- Thời kỳ thu hoạch từ năm thứ 4 trở đi: Hàng năm cần bón thúc vào thời điểm thì mới có thể đem lại hiệu quả và năng suất cao.
·         Bón cơ bản (tháng 8 – tháng 11): Phân hữu cơ + Super lân + Vôi.
·         Bón đón hoa, cành xuân từ 15/1 – 15/3: Đạm Urê + Kali.
·         Bón thúc tăng trọng quả vào tháng 5: Đạm Urê + Kali.
·         Bón thúc cành thu và tăng trọng quả tháng 7 – tháng 8: Đạm Urê + Kali.
Ngoài ra bón cho cây sau khi thu hoạch làm cây chóng phục hồi, lượng bón thúc như sau:
- Phân hữu cơ hoai mục:                     20-30 kg/cây
– Đạm Urê:                                          0,5-0,8 kg/cây
– Super lân:                                          0,5-1,0 kg/cây
– Kali:                                                  0,1-0,3 kg/cây
– Vôi bột:                                             0,5-1 kg/cây 
Các năm sau lượng phân tăng theo tuổi cây, năng suất quả và tuỳ thuộc loại đất để tăng hoặc giảm lượng phân bón.
Cách bón:(Kỹ thuật trồng và chăm sóc cam vinh.)
·         Đào rãnh hoặc hốc rộng 20 cm, sâu 15-20 cm xung quanh tán cây, rắc phân lấp đất, tưới đẫm nước.
·         Bón tỉa cây
Khi cây có quả, sau mỗi lần thu hoạch cần đốn tỉa bỏ cành nhỏ, cành trong tán, cành sâu bệnh… và tiến hành thường xuyên tạo thuận lợi cho việc hình thành quả.

3 Phòng trừ sâu bệnh:(Kỹ thuật trồng và chăm sóc cam vinh.)
Thường xuyên kiểm tra vườn cây, phát hiện sâu bệnh kịp thời.
Sử dụng các biện pháp canh tác (xén tỉa cành lá sâu bệnh…) sử dụng các loại thuốc BVTV sinh học, thuốc hoá học ít độc, không dùng thuốc cấm và chú ý sử dụng thuốc theo nguyên tắc 4 đúng và chú ý một số loại sâubệnh…
·         Bọ xít, nhện chích hút, rầy, rệp phun: Sherpa 25 EC; Trebon,5 EC; Pegasus 500 EC; Actara 25 WG; Danitol 10 EC…
·         Bệnh loét sẹo, đốm lá thân và cành lớn, thân quả cần phun: Rhidomil MZ 73 WP; Score 250 EC; thuốc gốc đồng…
·         Ngoài ra có thể dùng Basudin 10 G để trị kiến, mối, bọ cánh cứng: Trộn tỷ lệ 1 thuốc + 10 cát rắc xung quanh gốc và hố.
 
Hãy cùng so sánh với các loại cam như cam Hà Giang, cam Trung Quốc không ngon bằng cam vinh bởi: những loại cam này thường được trồng trên vùng núi cao, chịu lạnh nhiều ở những vùng đất cằn cỗi nên thiếu nước, độ ẩm … ảnh hưởng đến chất lượng cũng như hàm lượng dinh dưỡng trong quả cam.
Những kỹ thuật canh tác trên đây thường được người dân áp dụng và dần cải tiến sao cho cam vinh đạt chất lượng cao nhất. Chính vì phương pháp chăm sóc chặt chẽ này nên chất lượng cam vinh luôn đặt lên hàng đầu, không loại cam nào sán

Thứ Hai, 17 tháng 4, 2017

Hồng Sấy Gió Theo Công Nghệ Nhật Bản ngon

Hồng sấy theo công nghệ Nhật Bản là sản phẩm được sấy khô bằng gió và nắng tự nhiên. Khi trái hồng thu hoạch về sẽ được gọt vỏ và để lại cuống, sau đó trái hồng được sấy trong lò vài tiếng đồng hồ rồi được treo lên cao bằng những móc treo


Những ngày cận Tết Nguyên đán 2017, sản phẩm hồng sấy áp dụng công nghệ Nhật Bản của các cơ sở chế biến hồng tươi tại TP Đà Lạt (Lâm Đồng) rơi vào tình trạng khan hiếm, mặc dù giá bán không hề rẻ....

Thị trường trái cây Tết Nguyên đán 2017 vô cùng nhộn nhịp với rất nhiều sản phẩm, đa dạng cả về chất lượng, hình thức và giá bán. Trong đó, đặc sản hồng sấy Đà Lạt dù có giá bán khá cao, có khi lên tới 500.000 đồng/kg nhưng luôn “cháy hàng” vì nổi tiếng thơm ngon, để được lâu mà không hề dùng tới hóa chất bảo quản.

Theo khảo sát, một ký hồng treo đang được các cơ sở chuyên chế biến hồng sấy tại Đà Lạt bán với giá sỉ từ 420.000-450.000 đồng/kg, tăng 100.000 đồng/kg so với một tháng trước. Nguyên nhân do hiện đang vào cuối mùa hồng Đà Lạt, sản lượng trái hồng giảm mạnh trong khi nhu cầu tăng mạnh dịp Tết.

Ông Trần Phú Lộc, Giám đốc Doanh nghiệp chế biến nông sản Shin Sang, địa chỉ ở 28 đường 3 tháng 4, TP Đà Lạt cho biết, đây là đợt cuối cơ sở của ông chế biến hồng treo với khoảng 3 tấn hồng quả tươi, gồm các loại như hồng vuông tứ hải, hồng trứng lốc, trứng láng…Tuy nhiên do nhu cầu tăng cao trong dịp Tết nên cơ sở của ông không đủ hồng cung cấp cho thị trường.

Hồng sấy theo công nghệ Nhật Bản là sản phẩm được sấy khô bằng gió và nắng tự nhiên. Khi trái hồng thu hoạch về sẽ được gọt vỏ và để lại cuống, sau đó trái hồng được sấy trong lò vài tiếng đồng hồ rồi được treo lên cao bằng những móc treo. Trong nhà sấy hồng luôn được duy trì mức nhiệt độ từ 25 - 30 độ C và độ ẩm khoảng 50% (nhiều cơ sở phải dùng máy và quạt để duy trì độ ẩm) sau khoảng 3 tuần, trái hồng sẽ từ từ khô lại.




Thông thường, để có được 1kg hồng khô treo sẽ cần khoảng 7 - 8 kg hồng trái tươi nên giá bán thường cao hơn hồng sấy truyền thống từ 2 - 3 lần. Tuy nhiên sản phẩm này có vị thơm tự nhiên, ngọt thanh và hầu như không độc hại do được sấy trong môi trường tự nhiên.

Để làm ra được loại đặc sản này, doanh nghiệp sản xuất phải thu mua hồng vuông và hồng trứng đã chín ngay tại các vùng trồng hồng theo phương thức tự nhiên, không sử dụng hóa chất BVTV ở Đà Lạt để bảo đảm chất lượng đầu vào của nguyên liệu. Sau khi đã qua quá trình tuyển chọn, sàng lọc kỹ càng, những trái hồng đạt chuẩn sẽ được đưa vào sơ chế, loại bỏ tạp chất và bụi bẩn bằng nước sạch và bàn chải chuyên dùng rồi chuyển qua giai đoạn diệt khuẩn. Tiếp đến, hồng được cho vào máy gọt vỏ, treo lên dây và đưa vào phòng vô trùng để sát khuẩn, chống nấm mốc và hơi ẩm.

Tại phòng sấy, hồng treo Đà Lạt được sấy khô ở nhiệt độ 500 – 600 độ C trong vòng 3 tiếng. Hồng sấy sau đó được treo thành từng dây và tiếp tục được sấy khô tự nhiên bằng nắng và gió trời theo công nghệ Nhật Bản, không qua tẩm ướp hóa chất bảo quản nên vẫn giữ nguyên được hương vị thơm ngon.

Sau khi phơi khoảng 3 tuần, hồng tươi sẽ chuyển thành những trái hồng khô thơm dẻo, mật quả đặc quánh bao quanh rất hấp dẫn. Thành phẩm hồng sấy Đà Lạt sau đó được đóng hộp và hút chân không để tăng thời gian bảo quản và ngăn chặn vi khuẩn xâm nhập.

Nhờ quy trình sản xuất hiện đại này, hồng treo Đà Lạt vừa giữ được màu sắc tươi tắn và hương thơm tự nhiên như hồng chín cây, vừa có độ dẻo ngọt hấp dẫn mà lại không lo nhanh hư thối. Do đó, đặc sản Tết 2017 này rất được lòng khách hàng cả nước.

Do sấy theo phương pháp đặc biệt nên hồng dẻo Đà Lạt có giá đắt hơn hồng sấy thông thường. Nếu như hồng sấy theo phương pháp truyền thống giá chỉ từ 200 – 250.000 đồng/kg thì hồng sấy kiểu này có giá dao động từ 400 –  420.000 đồng/kg nhưng lúc nào cũng trong tình trạng cầu vượt cung.

Chủ Nhật, 16 tháng 4, 2017

Người đàn ông "gàn" bắt vùng đất trũng "nhả" vàng

Đó là anh Đỗ Xuân Sơn (SN 1971, trú tại thôn 9, xã Xuân Trường, huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa). 
Xa vợ ra ngủ với... ễnh ương

Đến tận bây giờ, những mẩu chuyện về ngày đầu lập nghiệp của anh Đỗ Xuân Sơn vẫn được xem là kỳ tích.
“Mặc dù phải đối diện với muôn vàn khó khăn, thách thức nhưng bằng niềm tin mãnh liệt và nỗ lực phi thường, anh Sơn khiến cho tất cả phải trầm trồ thán phục”, Trưởng phòng NN-PTNT huyện Thọ Xuân Lê Thọ Cường khẳng định chắc nịch.
Trước khi bắt tay vào làm mô hình kinh tế trang trại, anh Sơn có thâm niên gần 20 năm (từ 1995 đến 2013) lăn lộn với nghề vận tải. Có vất vả nhưng bù lại, hiệu quả kinh tế không tồi, công việc kinh doanh hiệu quả giúp anh có điều kiện tậu đất, dựng nhà và tích góp được lưng vốn kha khá.
Vì lẽ đó, khi anh quyết định rẽ ngang sang lĩnh vực mới thì tất thảy đều ngỡ ngàng, nhiều kẻ ác mồm còn cho rằng đầu óc anh có vấn đề, khi không đang yên đang lành lại tự dưng muốn ôm rơm nặng bụng.

"Đi đây đi đó thường xuyên, tiếp xúc với nông dân, được tham quan những mô hình trang trại quy mô lớn giúp tôi mở mang tầm mắt. Dần dà tôi nhận ra mình có tình yêu lớn với nông nghiệp và ấp ủ giấc mơ sẽ đồng hành với nó”, anh Đỗ Xuân Sơn tâm sự.
Lại nói về xứ đồng Nảy Tài, toàn bộ diện tích này trước đây đều là đất lúa. Đặc điểm địa hình nửa trũng, nửa vàn cao, vừa khó dẫn nước vừa thường xuyên chịu cảnh ngập úng, nhận thấy quá nhiều rủi ro nên người dân không mặn mà canh tác, nếu có cũng chỉ triển khai lấy lệ.
Xuất phát từ lý lo trên, khi xã Xuân Trường có chủ trương quy hoạch lại đất để phát triển mô hình trang trại thì gần như không ai buồn bận tâm. Thế nhưng bản thân anh Sơn thì hào hứng tột độ.
Nhận thấy cờ đã đến tay, anh sốt sắng làm đơn xin thuê lại 2,2 ha với mức phí 1 tạ thóc/sào/năm, thời hạn kéo dài trong 5 năm. Không ai cạnh tranh nên nguyện vọng của anh nhanh chóng được chính quyền địa phương chấp thuận. Ngày nhận đất anh Sơn vui mừng như vớ được vàng, trong khi bên ngoài kẻ dè bỉu, người chê bai không tiếc lời.
“Đi đến đâu người ta bàn tán đến đó, họ gọi tôi là thằng khùng, thằng điên, những lúc như thế chỉ biết cúi gằm mặt mà đi”, anh Sơn bùi ngùi nhớ lại.

Ban đầu, anh Sơn dự định triển khai nuôi lợn làm hướng đi chính. Tuy nhiên, nhận thấy thị trường quá bấp bênh, giá cả lên xuống thất thường nên quyết định chuyển hướng sang nuôi gà Đông Tảo với quy mô trên 1.000 con, đồng thời tiến hành trồng cùng lúc 1.200 gốc cam Vinh và 2.000 cây cam đường Canh.
Chân ướt chân ráo bước vào nghề, vốn liếng kinh nghiệm chưa thấm tháp vào đâu nên sự cố cứ thế thi nhau tiếp diễn. Nghiêm trọng hơn cả là toàn bộ diện tích 1ha cam đường Canh không tài nào chịu lớn, cây phát triển còi cọc, trơ trụi lá và héo queo, héo quắt, để rồi tất cả 2.000 gốc cam đành phải nhổ sạch. Riêng vụ này, anh mất trắng 400 triệu đồng.
Cần nói thêm, khi anh Sơn quyết định thầu đất áp dụng mô hình kinh tế trang trại trên mảnh đất “chó ăn đá, gà ăn sỏi” Nảy Tài, làng xóm chê cười đã đành, đến cả người vợ đầu ấp tay gối suốt nhiều năm cũng gay gắt phản đối. Thất bại lần này như đổ thêm dầu vào lửa, không những bỏ mặc anh tự xoay xở “nơi ốc đảo”, chị còn cấm tiệt 2 đứa con bén mảng ra khu vực trang trại.
Một thân một mình thui thủi giữa đồng không mông quạnh, tiếng ếch nhái, ễnh ương ồm oàm réo rắt suốt những đêm khuya khiến anh không khỏi chạnh lòng…  
Canh bạc tất tay
Tiếp tục hay dừng lại? Câu hỏi trên ám ảnh anh Sơn suốt nhiều ngày liền. Nếu buông xuôi đồng nghĩa với việc mất tất cả, suy nghĩ đó càng thôi thúc anh quyết tâm hơn.
Nhận thấy không thể thành công với cách làm chộp giật, thế nên bên cạnh việc gia cố, hoàn thiện lại hệ thống trang trại, anh Sơn ngày đêm miệt mài tìm hiểu thêm thông tin, kinh nghiệm từ sách báo, mạng internet. Ngoài ra, anh không tiếc công đi tham quan thực tế các mô hình, ăn chực nằm chờ cả tháng trời tại những “thủ phủ” có tiếng về trồng cây ăn quả trên cả nước như Hòa Bình, Hưng Yên hay Bắc Giang.

Sau thời gian “cắp sách tới trường”, nhận thấy bản thân đã sẵn sàng đối đầu với thách thức nên anh Sơn quyết định chơi canh bạc tất tay. Trên diện tích sẵn có, anh tiến hành trồng cây ăn quả dàn trải, từ cam Vinh, cam đường Canh cho đến chanh đào, bưởi da xanh, ổi, mít Thái thi nhau mọc lên, ngoài ra anh còn tận dụng thêm quỹ đất làm chuồng, nuôi hàng trăm cặp chim bồ câu.
Không dừng lại ở đó, đầu năm 2015, anh Sơn tiếp tục đấu mối, thuê thêm 3,5 ha đất nhân rộng mô hình lên gần 6ha, đồng thời đầu tư công nghệ tưới nhỏ giọt hiện đại hàng đầu của Israel nhằm phát huy tối đa hiệu quả.
Không chút giấu giếm, anh Sơn cho hay: “Tổng chi phí đến thời điểm này rơi vào khoảng 3,8 tỷ đồng, để có tiền đầu tư tôi phải bán đất, bán xe và vay mượn ngân hàng, hiện vẫn nợ trên 1 tỷ đồng. Sau 4 năm ròng rã đổ mồ hôi sôi nước mắt, đến giờ tôi mới thấy dễ thở hơn đôi chút”.

Chăm cây đã đến ngày hái quả, tháng 10/2016, trang trại chính thức thu hoạch lứa sản phẩm đầu tiên. Thời điểm đó, từng đoàn xe tải nối đuôi nhau, gồng gánh vào "ăn" hàng, tiếng người mua, kẻ bán lanh lảnh không ngớt như muốn xé toang không gian trầm lắng của vùng đất khó.
Hơn 7 tấn cam Vinh, ngót chục tấn cam đường Canh và trên 20 tấn chanh đào mang lại doanh thu ngót 1 tỷ đồng, trừ chi phí phân gio, giống má, công cán, chủ nhân bỏ túi trên 700 triệu đồng. Lúc này, khắp từ làng trên xóm dưới mới ngớ người ra, từ chỗ chê cười họ chuyển sang khâm phục anh, tuyệt nhiên từ đó trở đi không còn ai nhắc đến cái tên Sơn “khùng” nữa.
Thành quả đầu tay trở thành chiếc cầu nối để vợ chồng anh xích lại như xưa.  “Đang yên đang lành, đùng đùng quay ngoắt 360 độ đòi bán nhà, bát đất làm trang trại, trong khi một chữ bẻ đôi về nông nghiệp cũng không biết thì ai tán thành cho được? Chồng một nơi, vợ một nơi, con cái chịu nhiều thiệt thòi nên trong thâm tâm nào có được yên, nghĩ rằng để anh tự xoay xở một thời gian sẽ từ bỏ chứ ai ngờ anh quyết làm đến cùng”, chị Trịnh Thị Tuyết, vợ anh Sơn thổ lộ.
Trong các sản phẩm hiện có, anh Sơn đặt nhiều kỳ vọng vào giống bưởi đào và bưởi da xanh. Được biết, 1.600 gốc bưởi đào trồng từ năm 2013, đến nay tất cả phát triển tốt, thân to, khỏe, cao trên 2m, theo tính toán đến 2018 sẽ thu hoạch, mỗi cây cho khoảng 300 quả.
Trong khi đó, bưởi da xanh dù là giống khó tính, tỷ lệ đậu quả kém hơn nhưng nhờ chăm bẵm đúng quy trình nên chất lượng sản phẩm được người tiêu dùng đánh giá cao, quả ngọt, thơm, múi to, mọng nước, thế nên dù giá cả cao chót vót (55.000đ/kg) nhưng có bao nhiêu hết bấy nhiêu. Dự kiến, 2 mặt hàng chủ lực này cùng với các sản phẩm sẵn có sẽ mang lại cho anh Sơn khoản lãi ròng không dưới 1 tỷ đồng/năm.
“Giờ đây anh có thể kê cao gối ngủ ngon rồi đấy?”, tôi hỏi. “Không đâu, tôi đặt ra mục tiêu sẽ mở rộng trang trại thêm 4ha nữa, hãy còn vất vả dài dài anh ạ”, nói đoạn anh nông dân Sơn “khùng” cười tít.

Thứ Sáu, 14 tháng 4, 2017

Bắt tay sản xuất trái cây có chứng nhận

Nông dân - doanh nghiệp bắt tay


Ghi nhận tại tỉnh Vĩnh Long, bước đầu đã có một số mô hình thực hiện được sự liên kết sản xuất - tiêu thụ bằng hợp đồng, hình thành kênh tiêu thụ riêng, đã và đang mang lại hiệu quả cho nhà vườn và tạo nguồn nguyên liệu trái cây đủ tiêu chuẩn XK.
Cụ thể như việc xây dựng mô hình liên kết tiêu thụ đầu ra cho chôm chôm và sầu riêng tỉnh Vĩnh Long, do Viện CĂQ Miền Nam (SOFRI) triển khai hỗ trợ. Theo TS Nguyễn Thị Ngọc Trúc (SOFRI), sau 2 năm thực hiện triển khai hỗ trợ hướng dẫn, đến nay 34 xã viên HTX chôm chôm Bình Hòa Phước và 42 tổ viên của THT sầu riêng Thanh Bình đã hoàn thành các tiêu chí đủ điều kiện để được cấp chứng nhận.

Thực hiện đề án này ngoài việc tập huấn cho bà con nông dân vùng chôm chôm Bình Hòa Phước lấy tái chứng nhận GlobalGAP, canh tác bền vững, xây dựng thương hiệu, còn giúp bà con nông dân xã Thanh Bình bắt đầu làm quen với tiêu chuẩn VietGAP; đồng thời hướng dẫn nông dân áp dụng các sản phẩm vi sinh vật vào sản xuất giúp bộ rễ cây trồng khỏe mạnh, tuổi thọ cây trồng được kéo dài và canh tác bền vững.

Bên cạnh đó, mô hình liên kết sản xuất - tiêu thụ bưởi Năm Roi ở Mỹ Hòa, Bình Minh cũng được triển khai hiệu quả. Cty TNHH Thương mại MTV Hương Bưởi Mỹ Hòa sau khi tham gia thực hiện chương trình GlobalGAP của dự án với vai trò là chủ thể đã phối hợp với chính quyền địa phương vận động tổ viên 2 THT sản xuất bưởi Năm Roi ấp Mỹ An và ấp Mỹ Thới của xã tham gia chương trình với hợp đồng liên kết hỗ trợ sản xuất - thu mua sản phẩm trong mô hình (39ha) theo giá thị trường, đồng thời hỗ trợ 1 triệu đồng/tấn cho bưởi loại 1 xuất khẩu.

Trong năm qua, công ty này cũng đã thu mua hàng trăm tấn bưởi các loại cho nhà vườn ở Mỹ Hòa, trong đó sản lượng đạt GAP xuất khẩu. Năm 2016, thông qua mô hình liên kết, gần 20 tấn bưởi Năm Roi đạt tiêu chuẩn GAP đã được xuất khẩu sang châu Âu. Đồng thời, mô hình liên kết sản xuất - thu mua xoài Xiêm núm ở xã Quới An, huyện Vũng Liêm trên diện tích 48ha, với sự tham gia của DNTN Bình Long cũng thu được kết quả khả quan khi thông qua một công ty Hàn Quốc, Bình Long đã hỗ trợ túi bao trái để nhà vườn ứng dụng.

Chính quyền xã cũng hỗ trợ THT ký hợp đồng cung ứng sản phẩm cho DN và ký hợp đồng với giá bán loại 1 đạt tiêu chuẩn chất lượng là 32.000 đồng/kg, loại 2 là 22.000 đồng/kg. Theo các nhà vườn, có thời điểm bán trái theo liên kết giá cao hơn gấp 3 lần so với giá bán trên thị trường khiến bà con rất hào hứng phấn khởi đầu tư vào canh tác theo quy trình.

Gặp chúng tôi, ông Nguyễn Văn Kia (Ba Kia), ấp Lăng, xã Thanh Bình, huyện Vũng Liêm hào hứng chia sẻ: “Gia đình tôi đã trồng sầu riêng gần 20 năm nay, trước kia khi chưa đăng ký tham gia tổ hợp tác thì chủ yếu phải tự tìm mối tiêu thụ hàng trái nên bị thương lái ép giá và giá cả rất bấp bênh. Tuy nhiên, từ khi vào tổ hợp tác và canh tác theo quy trình được doanh nghiệp bao tiêu thu mua thì đầu ra ổn định, thuận lợi hơn rất nhiều. Đặc biệt đến nay đã dần thay đổi được tập quán canh tác cũ, khiến bà con rất phấn khởi mạnh dạn đầu tư thâm canh…”.

Theo ông Ba Kia, vườn của gia đình ông có diện tích 5.000 m2 trồng được 90 gốc sầu riêng Ri6. Ông bắt đầu tham gia THT và trồng theo quy trình VietGAP từ năm 2015, đến nay gia đình ông cũng như các nhà vườn khác trong THT sầu riêng Thanh Bình vừa được cấp giấy chứng nhận VietGAP. Đồng thời đã được các DN ký hợp đồng bao tiêu thu mua sầu riêng với giá ổn định và cao hơn thị trường.

Ông Phẩm Văn Tiếu, Tổ trưởng THT sầu riêng Thanh Bình cũng xác nhận, khó khăn nhất với bà con nhà vườn khi chưa tham gia vào THT là thường xuyên bị ép giá, sầu riêng không có thương hiệu. “Thực tế đã có tình trạng thương lái đến tận vườn đặt cọc thu mua sầu riêng của bà con cả trăm triệu đồng nhưng khi thu hoạch xong lại rất chậm trả tiền. Thậm chí, lúc đặt cọc thương lái hứa sẽ mua giá cao, nhưng khi giá thị trường lên thì họ lại… bẻ kèo nhà vườn!”, ông Tiếu nói.

Theo các nhà vườn ở đây, tình trạng này trước kia vẫn xảy ra thường xuyên nhưng không có giải pháp nào giúp bà con tránh được rủi ro. Tuy nhiên, đến nay khi thành lập được các THT, đi vào sản xuất theo quy trình bài bản, được các công ty liên kết bao tiêu thu mua thì bà con nhà vườn rất yên tâm và hào hứng đăng ký tham gia, đầu tư thâm canh mở rộng diện tích.

Hình thành vùng chuyên canh

Theo SOFRI, nhiều địa phương khu vực ĐBSCL đang quy hoạch hình thành các vùng chuyên canh cây ăn trái tập trung; đồng thời đẩy mạnh thực hiện chương trình VietGAP, GlobalGAP; nhất là xây dựng thương hiệu cho một số loại trái cây đặc sản thế mạnh của địa phương.

12-30-42_bi-3
Nhiều địa phương khu vực ĐBSCL đang quy hoạch hình thành các vùng chuyên canh cây ăn trái tập trung (Ảnh minh họa)
Vĩnh Long hiện có các cơ sở được cấp chứng nhận GlobalGAP như HTX bưởi Năm Roi Mỹ Hòa; HTX bưởi Năm Roi Đông Thành và vùng trồng bưởi Năm Roi xã Mỹ Hòa. Bên cạnh đó, một số HTX cũng được cấp chứng nhận VietGAP gồm HTX chôm chôm Java Tân Khánh (xã Tích Thiện); HTX chôm chôm Bình Hòa Phước (huyện Long Hồ) và vùng chuyên canh cam sành ở huyện Tam Bình...

Ông Nguyễn Trọng Danh, Phó GĐ Sở KH-CN Vĩnh Long cho biết: Để nhân rộng và phát triển mô hình trồng cây ăn quả đạt tiêu chuẩn GAP, tỉnh đang tập trung xây dựng liên kết chặt chẽ giữa các cơ sở được chứng nhận tiêu chuẩn GAP với thị trường tiêu thụ. Đồng thời, hình thành kênh tiêu thụ riêng để đảm bảo giá bán ổn định và phân biệt với các sản phẩm thông thường khác.

Còn với tỉnh Tiền Giang hiện có 72.850ha cây ăn trái, sản lượng thu hoạch 1,3 triệu tấn quả/năm. Trên địa bàn tỉnh này cũng hình thành một số vùng chuyên canh cây ăn trái như xoài cát Hòa Lộc, sầu riêng Ngũ Hiệp, khóm (dứa) Tân Phước, vú sữa Lò Rèn Vĩnh Kim, thanh long Chợ Gạo, bưởi long Cổ Cò, nhãn Nhị Quí, chôm chôm Tân Phong, sơ ri Gò Công…

Đến thời điểm này, Tiền Giang đã thành lập được 13 HTX, 33 THT sản xuất và tiêu thụ trái cây. Các HTX và THT bước đầu đã gắn kết nhà vườn với DN tổ chức sản xuất và tiêu thụ một số cây ăn trái hiệu quả như xoài, sầu riêng, thanh long, khóm, vú sữa, bưởi, sa pô (hồng xiêm)... Hàng năm, các HTX và THT đều ký hợp đồng với các DN tiêu thụ trái cây các loại, như Cty TNHH Thịnh Phát, Tập đoàn Metro Cash & Carry, Cty TNHH Phương Anh (Hà Nội) với sản lượng tiêu thụ hàng trăm tấn/năm.

Tương tự, các mô hình HTX, THT sản xuất cây ăn trái theo tiêu chuẩn GAP trên địa bàn các tỉnh Bến Tre, Đồng Tháp, Hậu Giang, Long An… hiện đang phát huy hiệu quả, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng, thương hiệu trái cây của địa phương. Ngành nông nghiệp các tỉnh cũng đang tập trung hỗ trợ các DN, tập thể, hộ nông dân sản xuất xây dựng mối quan hệ liên kết sản xuất - tiêu thụ, ưu tiên cho các sản phẩm chủ lực như bưởi, cam, nhãn, chôm chôm, xoài… Tuy nhiên, kết quả từ các liên kết này vẫn còn ở diện hẹp, chưa có nhiều mô hình liên kết đúng nghĩa có tính pháp lý (hợp đồng kinh tế) và sự liên kết chưa thật sự bền vững.

Thứ Năm, 13 tháng 4, 2017

Giúp dân xóa nghèo từ nông nghiệp

Theo số liệu thống kê của huyện Ba Bể, tính đến hết tháng 6/2015, đã hỗ trợ cho hộ nghèo được 2.835 con trâu, bò sinh sản; 674 con lợn nái và hàng trăm ngàn bầu cây ăn quả như hồng không hạt, cam, quýt, mận, na dai, trám và giúp dân nghèo có nguồn vốn vay ưu đãi để cải tạo hàng trăm ha vườn tạp thành vườn cây nông nghiệp ngắn ngày và rừng cây lâm nghiệp có giá trị kinh tế cao.

Cùng với hỗ trợ cây, con giống kịp thời cho những hộ nghèo có tư liệu SX, Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Ba Bể còn thực hiện giải ngân cho 86.772 hộ nghèo và 6.886 hộ cận nghèo có nhu cầu vay vốn phát triển SX, chăn nuôi và duy trì phương pháp SX theo nhu cầu thị trường.

Việc xoá đói giảm nghèo được cấp uỷ, chính quyền đặt dưới sự giám sát của các tổ chức đoàn thể tại cơ sở, qua đó tổng kết, đánh giá những mô hình hay, cách làm tốt nhằm nhân rộng đến các hộ khác.

Nhờ cách giám sát tốt tại cơ sở, huyện Ba Bể đã có 70 hộ thoát nghèo và vươn lên để có thu nhập từ 30 - 70 triệu đồng/năm. Đồng thời, kịp thời động viên 1.660 lượt hộ từ chỗ kinh tế khó khăn, biết vươn lên thành những mô hình kinh tế khá giả.

Hộ chị Liêu Thị Chuyên, thôn Bản Ván 2, trước đây là một trong những hộ nghèo của xã Địa Linh. Nhà chị có 4 khẩu, hơn 1.000 m2 đất ruộng và đất lâm nghiệp. Cả hai vợ chồng đã rất cố gắng làm lụng nhưng vẫn luôn trong cảnh nghèo đói. Năm 2012, chị Chuyên được vay ưu đãi 15 triệu đồng của Ngân hàng Chính sách xã hội để nuôi trâu sinh sản, cùng với làm thêm một số nghề phụ, đến cuối năm 2014, gia đình chị đã trở nên khấm khá.


Còn anh Nông Ngọc Thạch, ở thôn Nà Giảo xã Yến Dương, một trong những hộ đặc biệt khó khăn của huyện, đã được hỗ trợ trâu sinh sản theo Nghị quyết 30a của Chính phủ. Sau thời gian chăn thả, chăm sóc tốt, đến nay trâu cái đã sinh sản được 2 nghé con. Cùng với tăng gia SX, trồng rừng, trồng cây ăn quả nên gia đình anh Thạch đã có cơ hội xoá nghèo tận gốc…


Nguyễn Văn Dong, quyền Chủ tịch UBND huyện Ba Bể, cho biết: Từ năm 2009 đến nay, huyện Ba Bể đã được đầu tư gần 300 tỷ đồng từ các chương trình, dự án như Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững theo Nghị quyết 30a, Chương trình 134, 135 của Chính phủ.

Ngoài ra, các chương trình như Dự án quan hệ đối tác vì người nghèo trong phát triển nông - lâm nghiệp (gọi tắt là dự án 3PAD), Chương trình xây dựng NTM đã giúp huyện Ba Bể đầu tư, xây dựng và từng bước hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng, đồng thời hỗ trợ, giúp người dân triển khai, xây dựng các mô hình phát triển kinh tế, phát triển SX nông, lâm nghiệp, dạy nghề, tạo việc làm bền vững.

Nhờ thực hiện đồng bộ các giải pháp, linh hoạt trong áp dụng vào thực tiễn, đề án giảm nghèo đã phát huy hiệu quả rõ rệt, trong 6 năm qua (từ 2009 đến 2014), huyện Ba Bể đã giảm được 25% tổng số hộ nghèo. Số hộ nghèo hiện tại chỉ còn dưới 18%

Thứ Tư, 12 tháng 4, 2017

Kỹ thuật trồng táo đúng cách

Nguồn gốc:
Táo là cây ăn quả lâu đời, thích hợp với điều kiện nhiệt đới nước ta, táo dễ trồng, sinh trưởng phát triển nhanh, sau trồng 1 năm bắt đầu cho thu hoạch. Hiện nay, táo được trồng phổ biến là các giống táo địa phương: táo Thiện Phiến, táo Gia Lộc (chua), Táo xử lý đột biến như: táo 12 (ngọt), táo 32, táo Đào Tiên, đại táo 15 và giống ngoại nhập như: táo Đào Vàng, Lê Lai, Đào muộn, X12, táo Đài Loan...


Những đặc tính chủ yếu của giống táo:
Táo là cây dễ trồng, thích hợp cho mọi loại đất. Năng suất cao và ổn định, không có sâu bệnh nguy hiểm. Nếu đốn cây sớm sang năm sẽ cho quả sớm.
3. Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây táo:

3.1. Thời vụ và khoảng cách trồng

Thời vụ trồng chủ yếu là mùa xuân tháng 2-4 , nếu cây giống ghép sớm có thể trồng từ tháng 11. Sang xuân nếu gặp thời tiết thuận lợi cây sinh trưởng nhanh. Cuối năm cây sẽ cho nhiều quả. Khoảng cách trồng thông thường là 3 – 4 m một cây.
3.2 Cách đào hố trồng, phân bón lót:

Kích thước hố trồng 40x40x40 cm . Bón lót mỗi hố 15-20 kg phân chuồng ủ cho hoai mục + 0,5kg super lân + 0,3kg kali + 0,2 kg vôi bột. Các loại phân được trộn đều với đất, cho xuống hố, vun ụ lồi lên so với mặt đất 20cm ( không trồng cây trực tiếp với phân )

Nếu không có phân chuồng thì có thể sử dụng phân lân vi sinh với lượng 5 – 7kg/hố

3.3.Cách trồng:

Vét 1 hố nhỏ ở giữa ụ, đặt bầu cây ngang với mặt ụ, vun đất nén chặt xung quanh bầu. Phủ rơm rạ rắc xung quanh gốc một lớp dày 2-3cm. Tưới ngay sau trồng mỗi cây 2-3 gáo nước.

3.4.Chăm sóc và bón phân:

Trong tuần đầu, mỗi ngày tưới cho cây 1 lần vào buổi sáng hoặc chiều muộn, mỗi lần một thùng nước. Sau đó thì cách 2,3 ngày tưới 1 lần cho tới hết tháng. Khi cây phát triển thì sẽ tưới thưa hơn, đảm bảo đất luôn ẩm.

Có thể nói cây táo rất cần nước ở cái giai đoạn sinh trưởng, nhất là lúc đang phát triển. Nếu gặp hạn, không đủ nước, quả sẽ nhỏ, vỏ dày , ăn chát, quả kém phẩm chất.

Hàng năm cần bón phân cho cây sau thu hoạch và đốn cây, nhằm hồi phục sức lực cho cây vụ xuân tới, với lượng phân bón 1 cây như sau: Phân chuồng từ 30-50kg, lân 5- 8 kg,  kali 3 đến 5kg, đạm ure 0,5-1kg.

3.5.Phòng trừ sâu bệnh

* Bệnh hại

– Bệnh thối rễ, nứt thân: Thường gặp ở các vùng đất ẩm ướt, nấm xâm nhập vào làm hư hại rễ cọc, sau đó phá huỷ toàn bộ rễ làm cây chết. Cây bị bệnh có tán lá xơ xác, lá đổi sang mầu xanh nhạt rồi rụng, cành chết dần từ ngọn xuống thân chính. Cách phòng trừ là cần tránh ẩm ướt quá mức ở vùng rễ, phát hiện sớm các vết nứt dọc và thâm đen trong mạch gỗ.

– Bệnh khô cành: Do loại nấm Colletotrichum cloeosporiodes xâm nhập vào cành làm cành khô chết. Trên quả già, nấm xâm nhập qua vết thương làm quả bị nhũn. Ngoài ra, bệnh còn do nắng chiếu rọi trực tiếp trong thời gian dài.

– Bệnh trên quả già : Nấm bệnh xâm nhập khi quả đang phát triển tạo ra các điểm đen nhỏ trên vỏ quả, hình dấu cộng trên vỏ quả, các điểm đen này nứt và tách ra, làm giảm mẫu mã và giá bán. Cách phòng trừ cần tạo vườn thông thoáng, dọn sạch tàn dư, sau khi đậu trái nên phun thuốc phòng ngừa nấm.

* Sâu hại

– Côn trùng hại rễ: Gồm các đối tượng thường thấy như mối, sùng, dế, kiến, đặc biệt là rệp sáp, tập trung ở tầng đất từ 0 – 50cm cách mặt đất, cây bị bệnh có lá vàng nhạt, cây suy yếu dễ chết.

– Bọ xít: Chích hút nhựa đọt non, lá non làm héo và chùm đọt, đặc biệt là trái non tạo ra các chấm đen trên vỏ quả, làm rụng nhiều quả, là cửa ngõ xâm nhập của nhiều loại nấm bệnh, làm giảm rõ rệt năng suất và chất lượng quả.

– Mọt đục thân cành: Xuất hiện từ giữa mùa mưa khá rộ vào đầu đến giữa mùa khô, lổ đục tuy nhỏ và đường đục ngắn nhưng làm giảm quá trình sinh trưởng, phát triển của cây và cành dễ gãy.

Sâu cắm lá, sâu cuốn lá, nhện đỏ, sâu đục quả. Trong tháng 6 tháng 7 có xén tóc đẻ trứng vào thân cây. Để phòng trừ thì bà con dùng thuốc sau:

–         Trừ nhóm sâu chích hút dùng các thuốc: Sherpa (0,1%), Trebon (0,1-0,2%), Depterx(0,2%), Dantiol(0,1-0,2%), Monitor(0,1-0,2%), Bi 58, Basudin.

–         Trừ nhóm sâu ăn lá thì dùng một trong các thuôc sau: Azodrin 50 DD (0,2%), Score(0,05%), Alieett(0,3%), Mancozeb(0,25%).

–         Đối với kiến, mối, bọ cánh cứng hại rễ, hại gốc thì sử dụng thuốc: Basudin, Lidanfor, Sevidol để trị. Dùng một trong các loại thuốc trên, trộn đều 1 thuốc – 10 cát rồi rắc xung quanh gốc và hố.

3.6. Đốn Táo

Căn cứ đặc điểm của từng giống táo và mục đích sản xuất mà có các cách đốn táo khác nhau. Cành quả của táo mọc trên cành cây mẹ ra trong vụ xuân cùng năm, bởi vậy đốn cành sao cho nhiều cành ra trong vụ xuân, cành khỏe, để có sản lượng cao. Có 2 cách đốn cây táo như sau:

–         Đốn phớt: Làm thường xuyên hàng năm sau vụ thu hoạch nhằm cho sản lượng quả cao và ổn định.

–         Đốn đau: Mục đích tạo tán đối với cây còn nhỏ 1-3 năm tuổi và đối với những cây đã lớn, cắt hết các loại cành chỉ để lại một đoạn gốc của 3 cành lớn ra trong năm trước để tạo tán cho năng suất cao.

4. Thu hoạch

Táo được thu hoạch sau 2-3 tháng từ khi ra hoa, khi quả to, căng mọng vỏ và sáng màu. Thu hoạch táo thủ công và tránh làm dập nát trong quá trình vận chuyển.

Biện pháp cứu nhãn nhiễm bệnh chổi rồng

Theo Cục Bảo vệ Thực vật, hiện có 16.269 ha nhãn (chiếm hơn 55%) trong 29.226 ha nhiễm bệnh chổi rồng tại đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đã được cứu bằng các biện pháp phối hợp canh tác, cơ học, hoá học.


Về biện pháp canh tác, ngành bảo vệ thực vật các tỉnh có diện tích nhãn nhiễm bệnh nhiều (Đồng Tháp, Sóc Trăng, Hậu Giang, Tiền Giang, Cần Thơ, Trà Vinh, Vĩnh Long) hướng dẫn nông dân tưới phun nước với áp lực cao trên tán cây, tưới đầy đủ, bón phân cân đối, hợp lý, tránh bón nhiều đạm làm lá phát triển nhiều tạo điều kiện tốt cho nhện phát triển dẫn đến bệnh nhiều và nặng. Biện pháp cơ học là thực hiện cắt tỉa cành nhiễm sau thu hoạch, thường xuyên tỉa tiêu hủy chồi nhiễm bệnh chổi rồng đồng loạt, ngăn các hộ nuôi ong mật di nhập đàn ong từ địa phương khác về nuôi trong các vườn nhãn, vì ong cũng là tác nhân làm phát tán loài nhện lông nhung là môi giới truyền vi rút gây bệnh chổi rồng trên nhãn. Về biện pháp hóa học thì tiến hành phun thuốc trừ nhện, kết hợp giữa Cypermethrin hay thuốc gốc Diafenthiuron với dầu khoáng (DC Tron Plus hoặc SK Enspray 99).


Tại Đồng Tháp, việc cắt tỉa cành sau khi thu hoạch và phun thuốc trừ nhện kết hợp với dầu khoáng vào các đợt ra đọt, ra hoa cho hiệu quả phòng trừ bệnh chổi rồng tốt. Việc phun nước với áp lực cao thì tỉ lệ bệnh giảm so với đối chứng. Việc phun thuốc hoá học được thực hiện luân phiên các loại thuốc trừ nhện có gốc khác nhau để tránh tính kháng thuốc của nhện. Tại Sóc Trăng, nông dân đưa phân hữu cơ vào bón cho cây, kết hợp với phun chế phẩm sinh học Trichoderma vào gốc nhãn, cắt tỉa cành bị bệnh đến khi ra cơi đọt 3 thì bắt đầu xử lý ra hoa. Trong quá trình xử lý nhãn ra hoa, nông dân không sử dụng chất Chlorate kali, mà chỉ xử lý bằng cách khoanh gốc. Phương pháp này đã mang lại hiệu quả cao. Thực hiện theo cách trên, tỷ lệ tái nhiễm bệnh chổi rồng chỉ từ 2-5%.

Tại Cần Thơ, nông dân không đốn bỏ nhãn mà áp dụng biện pháp ghép chuyển đổi giống nhãn xuồng cơm vàng có chất lượng ngon trên gốc nhãn tiêu da bò bị nhiễm bệnh. Nông dân thực hiện tỉa cành trên từng vườn theo kiểu cuốn chiếu, không bỏ sót cây bệnh trong vườn nhãn và phun xịt thuốc trừ nhện một cách đồng loạt và triệt để theo đúng quy trình do Cục Bảo vệ Thực vật khuyến cáo.

Được biết, thời gian qua, bệnh chổi rồng đã gây hại 29.226 ha nhãn tại 7 tỉnh ĐBSCL, trong đó có trên 20.368 ha nhiễm nặng.

Thứ Hai, 10 tháng 4, 2017

Phú Thọ: phát triển trồng cây bưởi Diễn năm 2015

Thực hiện chương trình phát triển cây ăn quả giai đoạn 2011 – 2015 của tỉnh, trong những năm qua, sản xuất bưởi diễn của tỉnh đã đạt được những kết quả quan trọng: diện tích cây bưởi Diễn được mở rộng (diện tích năm 2014 đạt 750 ha tăng khoảng 630 ha so với năm 2009), nhiều diện tích đã cho sản phẩm ổn định và cho thu nhập cao. Cây bưởi Diễn đã dần khẳng định là cây trồng có thế mạnh trong chuyển dịch cơ cấu cây trồng, phát triển kinh tế vườn đồi, góp phần nâng cao giá trị và hiệu quả kinh tế trên đơn vị diện tích đất nông nghiệp, phát triển kinh tế hộ gia đình. Tuy nhiên phát triển bưởi Diễn trên địa bàn tỉnh còn nhiều hạn chế: Quy mô còn nhỏ, phân tán, chưa có vùng trồng theo hướng hàng hóa; trình độ, kỹ thuật, đầu tư thâm canh còn hạn chế … năng suất, chất lượng chưa cao.



Để phát triển cây bưởi Diễn trên địa bàn tỉnh theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, từng bước hình thành vùng hàng hóa, Sở Nông nghiệp và PTNT xây dựng Kế hoạch phát triển cây bưởi diễn năm 2015 với các nội dung sau:


I. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU.

Mục đích:
– Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, nhất là vùng gò đồi thấp, đất vườn trồng các cây trồng khác kém hiệu quả sang trồng bưởi Diễn. Nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cho người trồng bưởi, đặc biệt là đối với diện tích đã cho quả.

– Nâng cao nhận thức của lãnh đạo cấp ủy, chính quyền địa phương và các đơn vị chuyên môn của Sở trong công tác chỉ đạo, tuyên truyền, hướng dẫn kỹ thuật trồng và thâm canh cây bưởi Diễn.

Yêu cầu:
Cây bưởi Diễn cần được trồng ở nơi có điều kiện đất đai, canh tác phù hợp, có đầu tư thâm canh. Đối với diện tích trồng mới cần làm làm tốt công tác quy hoạch, thiết kế trồng; lựa chọn nguồn giống, chất lượng cây giống đảm bảo; chăm sóc thời kỳ kiến thiết cơ bản; đối với diện tích đã cho quả cần tập trung đầu tư thâm canh tăng năng suất, chất lượng.

Trồng cây bưởi diễn

II. MỤC TIÊU:

– Hoàn thành kế hoạch đến năm 2015 tổng diện tích trồng bưởi Diễn trên địa bàn toàn tỉnh đạt trên 1.000 ha, trong đó năm 2015 diện tích trồng mới là 300 ha trở lên.

– Khảo sát, lựa chọn xây dựng 1-2 mô hình chăm sóc thâm canh cây bưởi Diễn thời kỳ kinh doanh để tham quan, học tập về ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và hiệu quả kinh tế của cây bưởi Diễn.

– Tích cực tuyên truyền, tập huấn, đào tạo nghề cho các hộ dân kỹ thuật trồng chăm sóc cây bưởi Diễn, trong đó tập trung vào các hộ đã trồng bưởi Diễn và có mô hình trồng bưởi Diễn.

– Rà soát, đánh giá, định hướng phát triển bưởi Diễn giai đoạn 2016 – 2020 gắn với Quy hoạch tổng thể phát triển nông nghiệp tỉnh Phú Thọ đến năm 2020, định hướng đến năm 2030; tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững.

III. NỘI DUNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU.

Công tác chỉ đạo, tổ chức sản xuất.
– Tăng cường sự lãnh chỉ đạo của các cấp Ủy, Chính quyền: Tổ chức thăm quan học tập, đánh giá hiện trạng cây bưởi Diễn tại địa phương; đưa chương trình phát triển cây bưởi Diễn vào Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp, quy hoạch vùng trồng và ban hành Kế hoạch cụ thể để chỉ đạo, thực hiện.

– Tổ chức chỉ đạo có hiệu quả công tác sản xuất giống hoặc có phương án cung ứng giống đảm bảo đủ số lượng và chất lượng cho người dân. Công bố các địa chỉ sản xuất, cung ứng giống có uy tín, đủ điều kiện theo pháp luật, đảm bảo chất lượng để người dân biết. Không để xảy ra tình trạng người dân sản xuất giống tự phát, mua giống không rõ nguồn gốc, không đảm bảo chất lượng ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất, chất lượng và hiệu quả của việc phát triển cây bưởi Diễn.

– Chỉ đạo xây dựng các mô hình điểm áp dụng các biện pháp kỹ thuật chăm sóc nhằm tăng năng suất, sản lượng, tăng giá trị và hiệu quả trên đơn vị diện tích. Chú ý đến kỹ thuật thâm canh, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh.

– Làm tốt công tác tuyên truyền, chỉ đạo trên cơ sở các mô hình đã có và đang xây dựng để người dân thấy rõ hiệu quả kinh tế của cây bưởi Diễn.

Về kỹ thuật:
– Về giống: có 2 dòng bưởi Diễn chính là dòng tôm vàng và dòng tôm xanh. Về hình thái thì 2 giống trên cơ bản giống nhau, tuy nhiên dòng tôm xanh có tép  màu vàng xanh, tép giòn, ngọt nhưng có vị he đắng. Vì vậy, chỉ sử dụng bưởi Diễn dòng tôm vàng để phát triển trồng mới; tuyệt đối không sử dụng dòng tôm xanh sẽ làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng quả sau này.

– Tiến hành bình tuyển, công nhận các cây bưởi Diễn đầu dòng, vườn cây bưởi Diễn đầu dòng (dòng bưởi Diễn tôm vàng) làm vật liệu nhân giống cho các cơ sở sản xuất giống cây ăn quả tại địa phương để chủ động nguồn cây giống cung ứng cho nông dân đảm bảo đủ số lượng có chất lượng cao, giảm chi phí và giá thành cây giống.

– Đối với các vườn tạp, vườn có cây bưởi Diễn trồng phân tán, tiến hành trồng bổ sung, thay thế bằng cây bưởi Diễn đảm bảo mật độ, vườn có cây bưởi khác có hiệu quả kinh tế thấp tiến hành ghép cải tạo bằng giống bưởi Diễn.

– Phối hợp với các ngành, các cơ quan, các nhà khoa học trung ương và địa phương để chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất đồng bộ từ trồng đến chăm sóc, bón phân, phòng trừ sâu bệnh, sinh thái tổng hợp để phát huy hiệu quả kinh tế cao cho toàn bộ diện tích bưởi Diễn.

Công tác khuyến nông, dịch vụ sản xuất:
– Củng cố, xây dựng các mô hình điểm áp dụng các biện pháp kỹ thuật chăm sóc, thâm canh nhằm tăng năng suất, sản lượng, tăng giá trị và hiệu quả trên đơn vị diện tích.

– Hướng dẫn nông dân lựa chọn vùng trồng Diễn có tầng canh tác dày 0,6 – 1m; thành phần cơ giới nhẹ đến trung bình, đất tơi xốp, thông thoáng và thoát nước tốt, độ dốc <150, tập trung và đất vùng gò đồi thấp, đất cao hạn để trồng phát triển cây bưởi Diễn.

– Tổ chức các lớp đào tạo dạy nghề trồng cây ăn quả, tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật về sản xuất bưởi Diễn cho cán bộ kỹ thuật, các hộ nông dân để nâng cao năng suất, hiệu quả kinh tế của việc trồng bưởi Diễn; có chính sách hỗ trợ đào tạo nghề cho các đối tượng hộ nghèo, gia đình chính sách.

– Đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền về hiệu quả cây bưởi Diễn và kỹ thuật trồng bằng các phương pháp tuyên truyền hiệu quả: Đài Phát thanh Truyền hình, băng đĩa khoa giáo, tài liệu in ấn hướng dẫn kỹ thuật.

– Làm tốt công tác dịch vụ vật tư (giống, phân bón…), chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh, liên kết sản xuất tiêu thụ sản phẩm; thông tin thị trường, giá cả về giống, vật tư và sản phẩm bưởi quả.

– Làm tốt công tác vận động quần chúng ở cơ sở. Phát động phong trào cải tạo vườn tạp, trồng, chăm sóc bưởi đến các khu dân cư, coi nhiệm vụ phát triển cây bưởi là một nhiệm vụ trọng tâm trong chương trình hoạt động của các cấp uỷ đảng, chính quyền các xã, thị trấn.

Công tác quản lý nhà nước:
– Tổ chức thực hiện tốt các quy hoạch, kế hoạch được phê duyệt gắn với định hướng cải tạo vườn tạp nhằm khai thác tối đa tiềm năng của địa phương, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, góp phần tăng thu nhập, tạo việc làm, ổn định đời sống nhân dân.

– Tăng cường công tác quản lý nhà nước về giống, đảm bảo các cơ sở sản xuất cung ứng giống đủ điều kiện theo quy định của pháp luật để cung cấp cây giống đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng. Tổ chức các đoàn kiểm tra, thống kê, rà soát toàn bộ các cơ sở sản xuất giống cây ăn quả trên địa bàn; kiên quyết xử lý các cơ sở sản xuất, kinh doanh giống bưởi Diễn vi phạm về chất lượng, không nhân giống từ cây bưởi Diễn đầu dòng.

– Quản lý cây đầu dòng: Đảm bảo các tổ chức, cá nhân đăng ký, chứng nhận, khai thác nguồn giống thực hiện nghiêm túc các quy định theo thông tư số 18/2012/TT-BNNPTNT ngày 26/4/2012 Quy định về quản lý sản xuất, kinh doanh giống cây công nghiệp và cây ăn quả lâu năm. Quản lý và hướng dẫn cụ thể cho chủ nguồn giống về chăm sóc, bảo vệ và khai thác nguồn giống theo đúng quy trình kỹ thuật; xác định rõ trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong việc khai thác, sử dụng mắt ghép để đảm bảo khai thác có hiệu quả các cây đầu dòng được công nhận.

– Chỉ đạo thực hiện tốt công tác dịch vụ tổ chức sản xuất: phát triển gia trại, trang trại, thu hút doanh nghiệp đầu tư trồng và phát triển cây bưởi Diễn; hình thành các hợp tác xã, tổ hợp tác thực hiện dịch vụ sản xuất về giống, vật tư, phân bón,  BVTV tạo sự gắn kết chặt chẽ, hài hoà lợi ích giữa các tổ chức và người dân, góp phần giảm chi phí, nâng cao hiệu quả sản xuất.

Về chính sách:
– Các huyện lồng ghép các nguồn kinh phí từ các chương trình, dự án trên địa bàn (như kinh phí hỗ trợ phát triển sản xuất của chương trình 135, NTM,…) để đầu tư hỗ trợ phát triển cây bưởi Diễn.

– Ưu tiên chính sách về đất đai, tạo điều kiện chuyển mục đích sử dụng đất từ các loại đất màu cao hạn, đất lâm nghiệp có độ dốc thấp… sang trồng bưởi với thời hạn lâu dài để người dân yên tâm đầu tư phát triển cây bưởichương trình đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông, thủy lợi vùng đồi để phát triển bưởi Diễn gắn với xây dựng nông thôn mới.

Trồng bưởi diễn tại phú thọ

IV.  TỔ CHỨC THỰC HIỆN.

Đề nghị UBND các huyện, thành, thị:
– Đẩy mạnh tuyên truyền về hiệu quả của cây bưởi Diễn; khẩn trương tổ chức rà soát, xác định diện tích có khả năng phát triển cây bưởi Diễn; xây dựng, tổ chức chỉ đạo thực hiện có hiệu quả kế hoạch phát triển cây bưởi Diễn của địa phương.

– Thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về giống cây trồng; thống kê, rà soát toàn bộ các cơ sở sản xuất, kinh doanh giống cây ăn quả trên địa bàn; tổ chức sản xuất giống hoặc có phương án cung ứng giống đảm bảo về số lượng, chất lượng cho người dân (không để dân mua giống trôi nổi, không rõ nguồn gốc).

– Cân đối, bố trí, lồng ghép nguồn kinh phí từ các chương trình (135, xây dựng Nông thôn mới) để hỗ trợ phát triển cây bưởi Diễn ở địa phương. Thực hiện tốt các mô hình khuyến nông, công tác đào tạo, tập huấn. Hướng dẫn nông dân có nhu cầu trồng bưởi Diễn lựa chọn nguồn cây giống đảm bảo chất lượng.

2. Đề nghị các Sở, ngành, đoàn thể:
Chủ động phối hợp với ngành Nông nghiệp và PTNT, các địa phương trong chỉ đạo, tổ chức thực hiện, động viên hội viên, đoàn viên hăng hái tham gia nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị

Các phòng, đơn vị thuộc sở Nông nghiệp và PTNT:
3.1. Phòng Trồng trọt:

– Tăng cường công tác tham mưu, chỉ đạo, đôn đốc mở rộng diện tích Diễn đảm bảo kế hoạch; nghiên cứu, đề xuất các chính sách, giải pháp để thúc đẩy việc thực hiện nhanh và có hiệu quả kế hoạch phát triển cây bưởi Diễn trên địa bàn tỉnh.

– Thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về giống cây trồng, tổ chức công nhận cây bưởi Diễn đầu dòng phục vụ cho công tác sản xuất và cung ứng giống; hướng dẫn quản lý, khai thác cây đầu dòng, vườn cây giống bưởi Diễn; hướng dẫn ứng dụng công nghệ, tiến bộ khoa học kỹ thuật đối với cây bưởi Diễn.

3.2. Trung tâm khuyến nông:

– Thực hiện xây dựng các mô hình thâm canh cây bưởi Diễn thời kỳ kinh doanh làm điểm tham quan, học tập làm cơ sở cho các địa phương chỉ đạo mở rộng diện tích.

– Tổ chức đào tạo dạy nghề trong lĩnh vực cây ăn quả nói chung, cây bưởi Diễn nói riêng cho đội ngũ cán bộ kỹ thuật, khuyến nông viên cơ sở và người dân về kỹ thuật trồng, chăm sóc, thu hoạch, bảo quản,… để nâng cao năng suất, hiệu quả kinh tế của việc trồng cây bưởi Diễn.

– Tăng cường công tác thông tin tuyên truyền, hướng dẫn kỹ thuật trồng và chăm sóc bưởi Diễn thông qua các hình thức phóng sự truyền hình; bài viết kỹ thuật; tập huấn, hội nghị.

3.3. Chi cục Bảo vệ thực vật: Thực hiện tốt công tác quản lý dịch hại, tăng cường công tác điều tra các đối tượng sâu bệnh hại trên cây bưởi, hướng dẫn sử dụng thuốc BVTV trên bưởi đảm bảo an toàn cho người sản xuất và an toàn sản phẩm cho người sử dụng.

3.4. Chi cục phát triển nông thôn: Ưu tiên bố trí các lớp đào tạo nghề trồng bưởi để chuyển giao khoa học kỹ thuật cho các cán bộ khuyến nông và các hộ nông dân có nhu cầu trồng và phát triển cây bưởi Diễn.

Trên đây là Kế hoạch phát triển cây bưởi Diễn năm 2015; đề nghị UBND các huyện thành, thị quan tâm, phối hợp chỉ đạo và yêu cầu các đồng chí Trưởng Phòng, Thủ trưởng các đơn vị thuộc Sở có liên quan nghiêm túc thực hiện./.